Công vụ 10:1-48 Trong thành Sê-sa-rê, có một người tên là Cọt-nây, làm đội trưởng của đội binh gọi là Y-ta-li. 2 Người vẫn là đạo đức, cùng CẢ NHÀ mình đều kính sợ Đức Chúa Trời, người hay bố thí cho dân, và cầu nguyện Đức Chúa Trời luôn không thôi.
- Sê-ra-sê là chữ Caesarea, vinh danh Caesar Augustus, hoàng đế la mã, biến khu vực này thành thủ đô la mã của xứ Giu-đê, khu vực rất nhiều cơ quan hành chính người la mã. Đây là nơi có thể coi là khu vực tạo ra bức tường ngăn cách nhiều nhất mà Phao-lô đã từng nói, vì người la mã và người Do Thái sống chung.
- Cọt-nây: đội trưởng la mã, centurion (cấp bậc chỉ huy 80 đến 100 người lính la mã), cả nhà ông kính sợ Đức Chúa Trời, là người ngoại bỏ các thần khác, thờ Giê-hô-va, chưa gia nhập đạo Do Thái chính thức, có thể đã đọc và hiểu một số điều trong luật pháp Đức Chúa Trời của người Do Thái. Nhưng ông chưa biết về Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su đã gặp ít nhất hai lần những đội trưởng la mã (Centurion)
này:
- Mác 27:54 THẦY ĐỘI (Centurion) (tên là Longinus theo truyền thuyết) và những lính cùng với người canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng động và những điều xảy đến, thì sợ hãi lắm, mà nói rằng: Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời.
- Lu-ca 7:1-10 Khi Đức Chúa Jêsus rao giảng xong mọi lời ấy trước mặt dân chúng nghe rồi, thì Ngài vào thành Ca-bê-na-um. 2 Vả, một THẦY ĐỘI (Centurion) kia có đứa đầy tớ rất thiết nghĩa đau gần chết, 3 nghe nói Đức Chúa Jêsus, bèn sai mấy trưởng lão trong dân Giu-đa xin Ngài đến chữa cho đầy tớ mình. 4 Mấy người đó đến cùng Đức Chúa Jêsus, mà nài xin rằng: THẦY ĐỘI thật đáng cho thầy nhậm điều nầy; 5 vì người yêu dân ta, và đã cất nhà hội cho chúng tôi. 6 Đức Chúa Jêsus bèn đi với họ. Khi Ngài gần tới nhà, THẦY ĐỘI sai bạn hữu mình đi thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, xin đừng tự phiền đến thế, vì tôi không đáng rước Chúa vào nhà tôi. 7 Tôi cũng nghĩ mình không đáng đến cùng Chúa; song xin phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành. 8 Vì chính mình tôi là người thuộc dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi; tôi biểu tên nầy rằng: Hãy đi! thì nó đi; biểu tên khác rằng: Hãy đến! thì nó đến; và biểu đầy tớ tôi rằng: Hãy làm việc nầy! thì nó làm. 9 Đức Chúa Jêsus nghe những lời ấy, lấy làm lạ cho THẦY ĐỘI, bèn xây lại cùng đoàn dân theo mình, mà phán rằng: Ta nói cùng các ngươi, dầu trong dân Y-sơ-ra-ên, ta cũng chưa thấy một đức tin lớn dường ấy. 10 Những kẻ sai đến trở về nhà, thấy đầy tớ lành mạnh.
3 Đang ban ngày, nhằm giờ thứ chín (15h), người thấy rõ ràng trong sự hiện thấy có một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời vào nhà mình và truyền rằng: HỠI CỌT-NÂY! 4 Đôi mắt người ngó chăm thiên sứ và run sợ lắm, thưa rằng: Lạy Chúa, CÓ VIỆC CHI? Thiên sứ nói: LỜI CẦU NGUYỆN cùng SỰ BỐ THÍ ngươi đã lên THẤU ĐỨC CHÚA TRỜI, và Ngài đã GHI NHỚ LẤY.
Chữ bố thí này nguyên ngữ là Transliteration: eleémosuné, Pronunciation: el-eh-ay-mos-oo'-nay, chữ này có nguồn gốc ban đầu Phiên âm: eleos
- Phát âm: EL-eh-os : (+ dịu dàng) lòng thương xót
- Bản NASB: lòng thương xót, lòng trắc ẩn
- Cho nên một đội trưởng la mã đã từng trải qua nhiều tội lỗi, giết người, nhưng trong lòng con người này có sự trắc ẩn, thương xót thật sự đến với người khác. Sự bố thí này phải dựa trên như vậy, không phải vì có tiền dư bung ra thoải mái thì gọi là bố thí.
- Và Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã thấy lòng của người đội trưởng này, và cả phân đoạn Công Vụ 10 cho thấy sự cứu rỗi đang được bắt đầu lan ra cho toàn thể dân ngoại, bất luận giàu, nghèo, sang, hèn, tốt xấu, ai cũng có cơ hội để được cứu.
5 Vậy, bây giờ hãy SAI NGƯỜI ĐẾN THÀNH GIỐP-BÊ,
mời Si-môn nào đó, cũng gọi là Phi-e-rơ. 6 Người hiện trọ nơi Si-môn, là thợ thuộc da, nhà ở
gần biển. 7 Khi thiên sứ, là đấng truyền cho người, đã trở
lui, thì Cọt-nây gọi hai người trong đám đầy tớ mình và một tên lính
tin kính trong những lính thuộc về mình, 8 mà thuật lại mọi điều cho họ nghe, rồi sai đến
thành Giốp-bê.
- Cọt-nây không đi, nhưng sai 2 người đầy tớ, 1 lính tin kính trong nhóm.
9 Bữa sau, trong lúc BA NGƯỜI ấy đang đi đường
và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu (12h trưa) Phi-e-rơ leo lên mái
nhà để cầu nguyện. 10 NGƯỜI ĐÓI VÀ THÈM ĂN; khi người ta đang
DỌN CHO ĂN, thì người bị NGẤT TRÍ ĐI.
- Nơi mái nhà thường là nơi mát, yên tĩnh, nhất là mọi thứ sinh hoạt nằm ở dưới, cũng theo một số quan điểm thì càng lên nơi cao như núi, tầng cao trên lầu sẽ là nơi gần Chúa nhất để cầu nguyện.
- Lúc 12h trưa thường là lúc tấp nập nhất, vì mọi người dọn bàn ăn chuẩn bị ăn trưa với nhau, nên Phi-e-rơ lên mái dù nắng nóng nhất nhưng lại là nơi yên tĩnh.
- Người đói và thèm ăn, Phi-e-rơ được lấy chuyện đói và thèm ăn để chuẩn bị nhận sự dạy dỗ tới bài học thuộc linh.
11 Người thấy TRỜI MỞ RA, và có vật chi giống
như MỘT BỨC KHĂN LỚN níu BỐN CHÉO LÊN, giáng xuống và sa đến đất: 12 thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi
loài, CÔN TRÙNG bò trên đất, và chim trên trời. 13 Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi
Phi-e-rơ, hãy DẬY, LÀM THỊT VÀ ĂN.
- Đối chiếu: Bản dịch Linh Mục Thế Thuấn Công Vụ 10:11-13 và thấy trời mở ra, và một đồ vật gì sà xuống, như thể một tấm khăn lớn, buộc bốn góc và buông thõng xuống đất, 12 trong đó có đủ thứ vật, thú bốn chân, RẮN RÍT (Thế Thuấn dịch rắn rít) dưới đất, và chim chóc trên trời. 13 Xảy đến có tiếng phán cùng ông: "Phêrô! Hãy chỗi dậy, hạ sát mà ăn!"
- Bản dịch Phan Khôi dịch là côn trùng, bản dịch của Thế Thuấn dịch là rắn rít, đây có thể là từ ‘’Remes’’ trong tiếng Hê-bơ-rơ mà đã đề cập ở PHẦN 4 liên quan dịch thuật ở Nô-ê, cho thấy quan điểm dịch thuật vẫn là côn trùng hoặc bò sát.
- Có tiếng phán Phi-e-rơ hãy dậy làm thịt và ăn, nhưng Phi-e-rơ không hề làm bất cứ động tác nào liên quan việc đó.
VẬY ĐÂY CÓ PHẢI ĂN NGHĨA ĐEN KHÔNG? HOẶC CHA PHÁN VẬY ĐỂ
PHÁ HỦY LUẬT PHÁP?
- Cùng xem qua một số câu chuyện tương tự mà Đức Chúa Trời cũng phán dạy điều gì đó, lấy việc ăn uống để dạy dỗ, chỉ dẫn.
CÂU CHUYỆN 1:
Khải Tượng của Ê-xê-chi-ên ăn cuốn giấy
Ê-xê-chi-ên 3:1-7 Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hỡi
con người, HÃY ĂN VẬT NGƯƠI THẤY; HÃY ĂN CUỐN NẦY, rồi đi, và nói
cùng nhà Y-sơ-ra-ên. 2 Ta mở miệng ra, và NGÀI KHIẾN TA ĂN CUỐN ẤY. 3 Ngài phán: Hỡi con người, hãy LẤY CUỐN TA CHO
NGƯƠI MÀ KHIẾN BỤNG ĂN VÀ LÀM ĐẦY RUỘT. Vậy ta ăn lấy, thì trong miệng
ngọt như mật. 4 Ngài lại phán: Hỡi con người, hãy đi, hãy đến
cùng nhà Y-sơ-ra-ên, đem những lời ta, thuật lại cho chúng nó. 5 Vả, ấy chẳng phải ta sai ngươi đến cùng dân nói
tiếng mọi rợ khó hiểu; bèn là đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên. 6 Thật, chẳng phải ta sai ngươi đến cùng nhiều dân
nói tiếng mọi rợ khó hiểu, mà ngươi không thể hiểu lời chúng nó; nếu ta sai
ngươi đến cùng chúng nó, chắc chúng nó sẽ nghe ngươi. 7 Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng nghe ngươi, vì nó
không muốn nghe ta; bởi chưng cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng lòng.
- Ý nghĩa là sự phán xét nhà Y-sơ-ra-ên, nhưng với người rao giảng lời Chúa thì ngọt như mật.
CÂU CHUYỆN 2:
Khải Tượng của Ê-xê-chi-ên nướng phân người, phân bò
Ê-xê-chi-ên 4:12-15 Ngươi sẽ ăn bánh tráng làm bằng bột lúa mạch nướng trên phân người trước mặt người ta.” 13 CHÚA phán, “Dân I-sơ-ra-ên sẽ ăn bánh ô uế như thế giữa các nước Ta xua chúng đến.” 14 Bấy giờ tôi nói, “Ôi, lạy CHÚA Hằng Hữu! Con chưa bao giờ làm cho mình bị ô uế. Từ nhỏ đến giờ con chưa bao giờ ăn thịt một con vật bị chết hoặc bị thú dữ cắn xé; ngay cả thịt có chút mùi hôi cũng không bao giờ vào miệng con.” 15 Ngài phán với tôi, “Này, Ta cho ngươi được dùng phân bò thay cho phân người để nướng bánh ăn.
- Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lệnh đóng vai một người bị bao vây để minh họa cho cuộc bao vây sắp tới của Giê-ru-sa-lem.
- Đức Chúa Trời ra lệnh cho Ê-xê-chi-ên phải nướng bánh của mình bằng phân người. Đây là một hành động cực kỳ ô uế theo luật Do Thái.
- Chúa cho phép ông dùng phân bò thay thế (vẫn là một dấu hiệu của sự ô nhục và thiếu thốn thức ăn sạch trong cuộc bao vây), nhấn mạnh rằng sự ô uế và thiếu thốn sẽ xảy ra với dân Y-sơ-ra-ên trong cảnh lưu đày.
- Khải tượng này không phải là sự bãi bỏ luật lệ, mà là sự nhấn mạnh tính nghiêm trọng của hình phạt đối với dân Y-sơ-ra-ên, sử dụng hình ảnh thực phẩm.
CÂU CHUYỆN 3:
Giăng ăn lời Chúa ở Khải Huyền 10:9-10
Khải huyền 10:8-10 Tiếng mà tôi đã nghe đến từ trời,
lại nói cùng tôi và bảo rằng: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị
thiên sứ đang đứng trên biển và đất. 9 Vậy, tôi đi tới vị thiên sứ và xin người cho tôi
quyển sách nhỏ. Người phán: Ngươi HÃY LẤY VÀ NUỐT ĐI; nó sẽ đắng trong bụng
ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật. 10 Tôi LẤY QUYỂN SÁCH NHỎ khỏi tay vị thiên
sứ và NUỐT ĐI; trong miệng tôi nó ngọt như mật, nhưng khi tôi nuốt rồi,
thì đắng ở trong bụng.
- Tiên tri (hoặc Sứ đồ) được lệnh ăn một cuốn sách (cuộn) được gửi từ trời xuống.
- Cuốn sách (Lời Chúa) ngọt ngào trong miệng (nhận Lời Chúa rất vui), nhưng đắng trong bụng (sứ mạng giảng ra sẽ gây ra đau khổ hoặc khó khăn).
KẾT LUẬN: Sự tương đồng với khải tượng của Phi-e-rơ:
Cả ba đều là các Khải tượng Đồ ăn hay Vật chất từ Trời để truyền tải một sứ
điệp thiêng liêng sâu sắc hơn về hành động của Đức Chúa Trời đối với thế giới.
Nên đây không phải liên quan chuyện đồ ăn thông thường, hoàn toàn là sự đặc biệt
riêng, một sứ mạng cụ thể nào đó mà Đức Chúa Trời bày tỏ cho cá nhân người mà
Ngài chọn, không phải để phá luật, hoặc áp dụng cho toàn bộ người dân hay xã hội.
14 Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy;
vì tôi CHẲNG ĂN GIỐNG GÌ DƠ DÁY (Koinon) CHẲNG SẠCH (akatharton) BAO GIỜ. 15 Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm
vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch (Thanh tẩy), thì chớ cầm bằng dơ dáy. 16 Lời đó lặp lại BA LẦN; rồi VẬT ẤY LIỀN
BỊ THÂU LÊN TRỜI.
- Công vụ 10 là phân đoạn diễn ra sau Chúa Giê-su về trời nhiều năm.
- Vậy là từ nhỏ đến lớn, lẫn theo Chúa Giê-su hơn ba năm, Phi-e-rơ chưa bao giờ ăn đồ ăn không tinh sạch, chứng minh Chúa Giê-su cũng không dạy và ăn đồ ăn không tinh sạch, vì nếu có ăn trước đây, thì Phi-e-rơ đã không bất ngờ thốt lên chữ ‘’chẳng ăn…chẳng sạch bao giờ’.
- Không có hành động ăn uống nào mà Phi-e-rơ làm sau đó, và các vật ấy bị thâu lên trời.
- Phi-e-rơ nói hai chữ là Koinon (Ô uế về lễ nghi, như đồ ăn tinh sạch mà bị dơ) và Akatharton (con vật không tinh sạch).
PHÂN TÍCH HAI CHỮ MÀ PHI-E-RƠ NÓI TRONG VĂN MẠCH
- κοινὸν (koinon): thông thường, phổ biến, chung
- Ý nghĩa tôn giáo: Dơ dáy, bị ô nhiễm, bị làm cho dơ.
- Nguồn gốc ô uế: Thường là vật tinh sạch, nhưng bị ô nhiễm do tiếp xúc với vật dơ dáy (Máu, xác chết v..v…)
- Mức độ: Ô uế lễ nghi, vẫn có thể tẩy sạch được.
ἀκάθαρτον (akatharton): không tinh sạch, ô uế.
- Ý nghĩa tôn giáo: Ô uế bẩm sinh, không tinh sạch theo luật.
- Nguồn gốc ô uế: Ô uế theo bản chất (từ ban đầu), được quy định rõ trong Luật Môi-se (Lê-vi Ký 11), chẳng hạn như thịt heo.
- Mức độ: Ô uế về bản chất/thể loại (cấm kỵ hoàn toàn, không thể tẩy sạch để ăn).
Một số sự
thú vị khác về chữ Akathartos và chữ ngược lại là Kathartos:
KATHARTOS (TINH SẠCH)
- Ví dụ: Cừu hay bò, dê là con vật tinh sạch, và chữ của nó là kathartos, đối ngược với con vật không tinh sạch là akathartos. Chữ Kathartos này chỉ về vật có sự tinh sạch, thuần khiết, vô tội, trong sáng, tinh khiết. Giống một số câu gốc sau cũng có chữ Kathartos.
Ma-thi-ơ 27:59 Giô-sép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải
liệm trắng (Bản dịch mới là vải gai sạch – kathartos). (Sạch về mặt nghi
lễ)
1 Ti-mô-thê 1:5 Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu
thương, bởi lòng tinh sạch (kathartos), lương tâm tốt và đức tin
thật mà sanh ra. (Sạch về mặt tâm hồn, tâm linh)
Ma-thi-ơ 5:8 Phước cho những kẻ có lòng
trong sạch (kathartos), vì sẽ thấy Đức Chúa Trời! (sạch về mặt tâm hồn, tâm
linh)
2 Ti-mô-thê 2:22 Cũng hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ,
mà tìm những điều công bình, đức tin, yêu thương, hòa thuận với kẻ lấy lòng tinh
sạch (kathartos) kêu cầu Chúa. (Sạch về mặt tâm hồn, tâm linh)
Gia-cơ 1:27 Sự tin đạo thanh sạch (kathartos) không
vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa
bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.
Khải huyền 19:8 đã cho người được mặc áo sáng láng tinh
sạch (kathartos) bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công
bình của các thánh đồ).
AKATHARTOS (KHÔNG TINH SẠCH)
- Còn chữ Akathartos là không tinh sạch, ngoài việc nói những con không tinh sạch như heo thì đơn giản là đối ngược lại là ô uế, tội lỗi, bẩn thỉu, hôi thối.
Mác 1:23 Vả, cũng một lúc ấy, trong nhà hội có
người bị tà ma ám, nhưng bản dịch rõ hơn là Mác 1:23 (BD2010) Ngay lúc
đó, trong nhà hội có một người bị UẾ LINH (akathartos) ám, (Uế linh)
Mác 3:11 Khi TÀ MA (akathartos) thấy Ngài, bèn
sấp mình xuống nơi chân Ngài mà kêu lên rằng: Thầy là Con Đức Chúa Trời! (Uế
linh)
Công vụ 5:16 Dân sự ở các thành lân cận cũng lũ lượt
kéo tới thành Giê-ru-sa-lem, đem đến những người đau ốm và kẻ bị tà ma (akathartos)
khuấy hại, thì hết thảy đều được chữa lành. (Uế linh)
2 Cô-rinh-tô 6:14 Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi
vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có
thông đồng nhau được chăng? 15 Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi,
hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? 16 Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với
hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức
Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của
họ, và họ làm dân ta. 17 Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng
nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến ĐỒ Ô UẾ (akathartos),
Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: 18 Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi làm con trai
con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy. (Hành vi ô uế)
Ê-phê-sô 5:5 Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, Ô
UẾ (akathartos), tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được
dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời. (Hành vi ô uế)
Như vậy chữ akathartos có ba nghĩa chính được dùng suốt Kinh
Thánh là:
- Tà linh ô uế
- Lối sống hay hành vi ô uế
- Đồ ăn ô uế hay không tinh sạch.
Như vậy là khải tượng Phi-e-rơ thấy rất dễ dàng để chúng ta
giải thích, đây không phải là chuyện liên quan đồ ăn nghĩa đen. Câu chuyện mở đầu
liên quan đến đội trưởng đội binh người Ý là Cọt-nây, thì khải tượng muốn
Phi-e-rơ thấy về những người ngoại, có thể có lối sống sai trật, hành vi ô uế, giết
người, thậm chí ăn uống không tinh sạch. Nhưng Đức Chúa Trời có thể làm họ sạch
được, nếu họ tin nhận Ngài, ăn năn quay trở lại.
17 Phi-e-rơ ĐANG NGHI NGỜ VỀ Ý NGHĨA của sự
hiện thấy mình đã thấy, thì các người mà Cọt-nây sai đi đã hỏi thăm được nhà
Si-môn, và tới đứng tận cửa. 18 Họ kêu và hỏi đây có phải là nơi Si-môn tức
Phi-e-rơ ở chăng. 19 Phi-e-rơ còn ĐANG NGẪM NGHĨ VỀ SỰ HIỆN THẤY
ĐÓ, thì Thánh Linh phán cùng người rằng: Kìa, có ba người đang tìm
ngươi. 20 Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ
nghi, vì ta đã sai họ đó. 21 Phi-e-rơ bèn xuống cùng họ mà nói rằng: Ta đây,
là người các ngươi đang tìm; các ngươi đến đây có việc gì? 22 Họ trả lời rằng: Đội trưởng Cọt-nây là NGƯỜI
CÔNG BÌNH, KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI, cả dân Giu-đa đều làm chứng tốt về người, người
đó đã bởi một thiên sứ thánh mà chịu mạng lịnh từ nơi cao rằng phải mời ông về
nhà và nghe lời ông.
- Nếu đây là chuyện cho ăn thoải mái, bỏ luật đồ ăn tinh sạch, đơn giản dễ hiểu như vậy, thì tại sao Phi-e-rơ lại ‘’ĐANG NGHI NGỜ VỀ Ý NGHĨA?’ cũng như câu 19 lại mô tả tiếp là Phi-e-rơ ‘’ĐANG NGẪM NGHĨ VỀ SỰ HIỆN THẤY ĐÓ’’?
- Nếu hiểu đơn giản là được ăn đồ ăn không tinh sạch , thì Phi-e-rơ đã chạy xuống công bố việc bỏ đồ ăn tinh sạch.
- Sau đó thì Thánh Linh phán rõ câu 20‘’hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, CHỚ HỒ NGHI, VÌ TA ĐÃ SAI HỌ ĐÓ’’. Chứng minh không hề liên quan việc đồ ăn đồ uống gì ở đây, nhưng để làm một công việc cụ thể được Chúa giao phó.
23 Phi-e-rơ bèn mời họ vào nhà và cho trọ tại đó.
Ngày mai, Phi-e-rơ chờ dậy đi với họ, có một vài người trong hàng anh em từ Giốp-bê
cùng đi với. 24 Bữa sau, đến thành Sê-sa-rê. Cọt-nây với bà con
và bạn thiết mà người đã nhóm lại tại nhà mình đang chờ đợi. 25 Phi-e-rơ vừa vào, thì Cọt-nây ra rước, phục xuống
dưới chân người mà lạy. 26 Nhưng Phi-e-rơ đỡ người dậy, nói rằng: Ngươi
hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi. 27 Phi-e-rơ đang nói chuyện với Cọt-nây, bước vào,
thấy có nhiều người nhóm lại.
28 Người nói cùng chúng rằng: người Giu-đa vốn
KHÔNG ĐƯỢC PHÉP GIAO THÔNG với người ngoại quốc hay là tới nhà họ; nhưng Đức
Chúa Trời đã TỎ CHO TA BIẾT chẳng nên coi MỘT NGƯỜI NÀO (Chứ
không nói con vật nào) là ô uế hay chẳng sạch.
THAM KHẢO LỊCH SỬ:
- Trích dẫn lời của học giả nghiên cứu thế ký kỷ 19 Alfred Edersheim: ‘’Người Do Thái không được giao du với những kẻ thờ thần tượng, kẻo chính họ cũng trở thành những kẻ thờ thần tượng. Những cách giải thích cực đoan nhất cho rằng họ thậm chí không được giúp đỡ người ngoại đạo hoặc cứu họ khỏi nguy hiểm’’
- Alfred Edersheim đã diễn đạt thái độ chung của các giáo sĩ Do Thái đối với những người thờ thần tượng theo cách này: “Đám người thuộc về họ đã bị ô uế; nhà cửa của họ không sạch sẽ, vì chứa đựng các thần tượng và những vật được dâng hiến cho chúng; các lễ hội, các dịp vui vẻ, ngay cả sự tiếp xúc của họ cũng bị ô nhiễm bởi sự thờ cúng thần tượng; và không có sự an toàn nào nếu một người ngoại đạo ở trong phòng, rằng anh ta không thể vì sự bừa bãi hoặc bất cẩn mà làm ô uế rượu hoặc thịt trên bàn, hoặc dầu hoặc lúa mì trong kho. Do đó, trong những hoàn cảnh như vậy, mọi thứ đều phải được coi là đã trở nên ô uế.”
- Tương tự, người ngoại bang cũng không có thiện cảm với người Do Thái. Họ coi sự chống đối của người Do Thái đối với tôn giáo La Mã là sự ngoan cố. Việc họ khăng khăng thờ phụng một vị thần vô hình (khác hẳn với tất cả các vị thần khác) bị họ coi là cuồng tín và mê tín.
- Người La Mã có học thức nhìn người Do Thái với thái độ vừa khinh miệt vừa giận dữ, càng thêm gay gắt bởi theo quan niệm của họ, kể từ khi bị La Mã lệ thuộc, người Do Thái không còn quyền giữ gìn tôn giáo của mình thì càng thêm cay đắng, dù họ có làm gì đi nữa, chủng tộc bị khinh miệt ấy vẫn hiện diện khắp nơi với một tôn giáo cứng nhắc đến mức tạo thành bức tường ngăn cách, và với những nghi lễ độc quyền đến mức khiến họ không chỉ trở thành người xa lạ mà còn là kẻ thù.
Chúng ta thấy thời hiện đại còn việc phân biệt về vùng miền,văn
hóa và đã thấy có sự gây gổ, tranh cãi kịch liệt, huống chi một xứ sở liên quan
tới tôn giáo, lễ nghi, và bao nhiêu ngàn năm trước đây còn khủng khiếp ra sao từ
chuyện nhỏ đến chuyện lớn, đều có thể tạo ra xung đột ngay lặp tức.
29 Nên khi các ngươi đã sai tìm, thì ta chẳng ngại
gì mà đến đây. Vậy ta hỏi vì việc chi mà các ngươi mời ta đến. 30 Cọt-nây trả lời rằng: Đã bốn ngày nay, nhằm giờ
thứ chín, tôi đang ở nhà cầu nguyện, thình lình có một người mặc áo sáng
lòa, hiện ra trước mặt tôi, 31 mà phán rằng: Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi
đã được nhậm, Đức Chúa Trời đã ghi nhớ việc bố thí của ngươi. 32 Vậy, ngươi hãy sai đến thành Giốp-bê, mời
Si-môn, là Phi-e-rơ đến đây: người đang ở tại nhà Si-môn, thợ thuộc da, gần biển. 33 Tức thì tôi sai tìm ông, mà ông đến đây là rất
phải. Vậy bây giờ, thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời, để nghe MỌI
ĐIỀU CHÚA ĐÃ DẶN ÔNG nói cho chúng tôi.
- Mọi điều Phi-e-rơ sắp nói có liên quan đồ ăn không?
34 Phi-e-rơ bèn mở miệng nói rằng: Quả thật, ta biết
Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai, 35 nhưng TRONG CÁC DÂN, HỄ AI KÍNH SỢ NGÀI VÀ
LÀM SỰ CÔNG BÌNH, thì NẤY ĐƯỢC ĐẸP LÒNG CHÚA. 36 Ấy là lời Ngài đã phán CÙNG CON CÁI
Y-SƠ-RA-ÊN, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ,
tức là Chúa của loài người.
- Phi-e-rơ làm chứng cho thấy Đức Chúa Trời tuy nói cùng con cái Y-sơ-ra-ên, nhưng lại là lời truyền cho toàn dân là ‘’trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa’’. Như vậy có những điều mà Giê-hô-va truyền không chỉ cho Y-sơ-ra-ên, nhưng thậm chí cho toàn dân nào có lòng làm theo, thì đều được đẹp lòng Ngài.
- Nguyên chỗ này có ai bàn về chuyện đồ ăn không?
- Thông điệp Phi-e-rơ giảng cho cả gia đình Cọt-nây đang ngồi nghe là gì, có phải đồ ăn?
37 Việc đã bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi tràn ra
trong cả xứ Giu-đê, kế sau Giăng đã giảng ra phép báp-tem, thì các ngươi biết
rồi; 38 thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa
Jêsus ở Na-xa-rét bằng Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua
chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp;
vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài. 39 Chúng ta từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã
làm trong xứ người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đã treo Ngài trên
cây gỗ mà giết đi. 40 Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến
Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra,
- Chúa Giê-su được Giê-hô-va ban Thánh Linh và quyền phép, khiến Chúa Giê-su sống lại, thì xin hỏi có thể nào Chúa Giê-su đi phá chính luật đồ ăn tinh sạch của Giê-hô-va? Dạy mọi người ăn đồ ô uế thoải mái?
41 chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với những
kẻ làm chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là KẺ ĐÃ
ĂN UỐNG CÙNG NGÀI sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.
- Các sứ đồ đã cùng ăn uống với Chúa Giê-su, vậy suốt hành trình có ai ăn heo, vật không tinh sạch không?
42 Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân
chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ
sống và kẻ chết. 43 hết thảy CÁC ĐẤNG TIÊN TRI đều làm chứng
nầy về Ngài rằng HỄ AI TIN NGÀI thì được SỰ THA TỘI VÌ DANH NGÀI. 44 Khi Phi-e-rơ đang nói, thì Thánh Linh giáng
trên mọi người nghe đạo. 45 Các tín đồ đã chịu phép cắt bì, là những kẻ đồng
đến với Phi-e-rơ, đều lấy làm lạ, vì thấy sự ban cho Thánh Linh cũng đổ ra trên
người ngoại nữa. 46 Vì các tín đồ nghe họ nói tiếng ngoại quốc và
khen ngợi Đức Chúa Trời.
- Cho thấy Phi-e-rơ không hề giảng thêm bất cứ thông tin nào về chuyện đồ ăn, chỉ giảng dạy về sự cứu rỗi của Chúa Giê-su, mà do Cha sai đến.
- Cũng như đúng với các thông tin mà các đấng tiên tri làm chứng.
47 Bấy giờ Phi-e-rơ lại cất tiếng nói rằng: Người
ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Thánh Linh cũng
như chúng ta chăng? 48 Người lại truyền làm phép báp-tem
cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài người ở lại với mình
một vài ngày.
- Kết thúc toàn bộ Công Vụ 10, không một vị trí nào Phi-e-rơ giảng để công bố được ăn thoải mái, hoặc luật pháp đồ ăn tinh sạch bị bỏ.
- Vậy những ai trích ra Công vụ 10 để giảng luận là ăn thoải mái, thì đó là tự diễn giải sai trật, đi quá lời lẫn thông tin được ghi chép.
NẾU CHƯA RÕ, CÓ THỂ ĐỌC TIẾP CÔNG VỤ 11
Công vụ 11:1-26 Các sứ đồ và anh em ở xứ Giu-đê nghe tin người
ngoại cũng đã nhận lấy ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI (Đạo Đức Chúa Trời có chứa
thông tin gì, luật gì?). 2 Khi Phi-e-rơ đã trở lên thành Giê-ru-sa-lem, có
người tín đồ vốn chịu phép cắt bì trách móc người, 3 rằng: Ngươi đã vào nhà kẻ CHƯA CHỊU PHÉP CẮT
BÌ, và ĂN CHUNG VỚI HỌ!
- Đạo Đức Chúa Trời thì phải bao gồm luật pháp, điều răn, và những điều do chính Đức Chúa Trời dạy dỗ, vậy mà đi bỏ chính luật pháp của Ngài về đồ ăn tinh sạch là sao?
- Đây là hành vi cực đoan của người tín đồ nào đó, không cho vào nhà người ngoại và ăn chung, trong khi luật pháp Chúa có cấm vậy đâu?
LUẬT TRUYỀN KHẨU MÀ PHA-RI-SI HOẶC MỘT SỐ NGƯỜI HAY BẮT BẺ
CHÚA GIÊ-SU
- Luật mà mấy thầy sư hay đi bắt bẻ Phi-e-rơ hay Chúa Giê-su nó là Luật truyền khẩu (Halakha: "con đường" hoặc "cách đi") của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Nói chung thông cảm là vì qua nhiều thế hệ dân sự phạm luật Môi-se nhiều quá, không giữ theo điều răn luật pháp của Đức Chúa Trời, thì dần dần người ta ra thêm nhiều điều nghiêm ngặt, cấm đoán, thêm hàng rào lễ nghi để giữ dân sự không phạm tội, nhưng vô tình nó đi sai lạc, từ lời truyền khẩu thì thành cớ để đi bắt bẻ cực đoan.
- Những luật Halakha này một số người Do Thái tin rằng đã được ban ra bởi Môi-se, nhưng do lúc đó chưa viết ra. Dần dần nó chuyển sang gọi là Mishnah.
1. Mishnah (Cốt lõi của luật truyền khẩu)
Đến khoảng năm 200 SCN, các luật truyền khẩu này mới được hệ
thống hóa và viết lại thành bộ Mishnah. Nó được chia thành 6 phần
(Seder) chính:
- Zeraim
(Hạt giống): Các luật về nông nghiệp và cầu nguyện.
- Moed
(Lễ tiết): Các quy định về ngày Sa-bát và các ngày lễ.
- Nashim
(Phụ nữ): Luật về hôn nhân, ly dị và lời thề.
- Nezikin
(Thiệt hại): Luật dân sự và hình sự.
- Kodashim
(Vật thánh): Các quy định về tế lễ và đền thờ.
- Tohorot
(Sự thanh sạch): Các quy định về sự ô uế và thanh tẩy (đây chính là phần
luật khiến Phi-e-rơ e ngại khi vào nhà người ngoại).
2. Talmud (Giải thích và tranh luận)
Sau khi có Mishnah, các học giả Do Thái tiếp tục thảo luận
và giải thích sâu hơn. Những cuộc thảo luận này được ghi chép lại gọi là Gemara.
- Mishnah
+ Gemara = Talmud.
- Talmud
giống như một "bộ bách khoa toàn thư" về luật pháp, nơi các thầy
Rabbi tranh luận về từng chi tiết nhỏ nhất của đời sống.
Cho nên khi Chúa Giê-su phá hỏng những lời truyền khẩu này,
và cả các môn đồ cũng phá bỏ thì người Do Thái, đặc biệt hàng giáo phẩm, ngưiời
Pha-ri-si cực kì khó chịu.
Ví dụ một số cái mang tính truyền khẩu:
Liên quan ngày Sa-bát
- Đi bộ quá 2000 bước chân, tầm 1km trong ngày Sa-bát là không được.
- Cái kim găm trên áo cũng có thể bị coi là "mang vác" nếu nó không được coi là một phần của trang phục.
- Cấm viết từ 2 chữ cái trở lên. Nếu bạn viết một chữ rồi quên, sau đó viết tiếp chữ thứ hai, bạn vẫn bị coi là vi phạm. Viết 1 chữ cái: Được coi là một hành động chưa hoàn thành, chưa có ý nghĩa rõ ràng (ví dụ: chỉ mới viết chữ "A" thì chưa thành một từ). Vì vậy, nếu vô tình viết 1 chữ, bạn chưa bị coi là "phạm tội" mức độ nặng nhất. Viết 2 chữ cái: Đây được coi là đơn vị nhỏ nhất để tạo thành một từ hoặc một ký hiệu có ý nghĩa trong tiếng Do Thái (ví dụ: chữ "Ab" nghĩa là Cha). Do đó, hành động này bị coi là đã tạo ra một "sản phẩm", tức là đã "làm việc".
Liên quan Rửa tay:
- Phải đổ nước lên tay đến tận cổ tay. Lần đổ nước thứ nhất để làm sạch bụi bẩn "ô uế", lần đổ nước thứ hai để làm sạch nước đã bị "nhiễm ô uế" từ lần thứ nhất.
- Phải dùng ít nhất một lượng nước bằng khoảng "một vỏ quả trứng rưỡi" cho hai bàn tay.
- Nếu bạn không rửa tay đúng cách trước khi ăn bánh, bạn bị coi là đã làm cho chiếc bánh đó trở nên ô uế, và khi ăn vào, thân thể bạn cũng ô uế theo.
Liên quan ô uế khi tiếp xúc người ngoại:
- Mishnah dạy rằng nhà của người ngoại bang bị coi là ô uế vì họ có thể đã chôn cất những thai nhi bị sảy ngay trong nhà (một quan niệm cực đoan thời đó).
- Bất cứ ai bước vào một không gian có sự ô uế (như một ngôi nhà bị coi là không thanh sạch) thì sự ô uế đó sẽ "bao phủ" lên họ, khiến họ không được phép vào Đền Thờ cho đến khi thực hiện các nghi lễ tẩy uế phức tạp.
Người Do Thái thời đó dùng lời thề để lách luật. Ví dụ về luật "Corban" (lễ vật hay đồ Dâng cho Chúa), là tổng hợp nhiều cách hiểu về dâng lễ vật mà trong cựu ước có nói, rồi học tự cho ra một luật riêng kiểu truyền khẩu về thề thốt về của lễ dâng lên cho Chúa.
- Nếu một người con không muốn giúp đỡ tài chính cho cha mẹ già, anh ta chỉ cần tuyên bố: "Số tiền tôi định giúp cha mẹ đã là Corban (đồ dâng cho Chúa) rồi".Theo Mishnah, một khi đã tuyên bố là vật thánh dâng cho Chúa, người đó không được phép dùng nó cho bất kỳ mục đích nào khác, kể cả việc hiếu kính cha mẹ.
- Trong nhiều trường hợp, người con đó vẫn giữ tài sản đó để tự chi dùng cho mình nhưng lại dùng nhãn dán "Corban"
Liên quan cắt bì:
- Nếu người ngoại mà dù có cắt bì thì ca đó không có giá trị tâm linh, dù về mặt vật lý là đã cắt xong. Sau khi cắt, người thực hiện phải hút một ít máu từ vết thương. Thời cổ đại, việc này thường được thực hiện trực tiếp bằng miệng. Ngày nay, vì lý do vệ sinh, hầu hết các cộng đồngDo Thái dùng một ống thủy tinh hoặc thiết bị hút y tế.
- Nếu ngày thứ tám rơi đúng vào ngày Sa-bát (ngày cấm đổ máu và làm việc), luật truyền khẩu quy định việc cắt bì vẫn phải tiến hành. Việc giữ giao ước cắt bì được coi là quan trọng hơn việc giữ sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát.
Luật truyền khẩu nhấn mạnh rằng cắt bì là "vé vào cổng" để được ăn
lễ Vượt Qua và tham gia hoàn toàn vào cộng đồng. Người không cắt bì bị coi là ô
uế và bị tách biệt khỏi đời sống thiêng liêng.
MỘT SỐ LUẬT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ SỰ NÂNG CẤP VÀ CẢI TIẾN
LÀ VÌ
- Ngày
xưa đường đất, xe ngựa thì luật khác.
- Ngày
nay đường cao tốc, ô tô thì luật phải khác. Việc luật xe ngựa không còn
dùng được cho ô tô không có nghĩa là luật xe ngựa thời đó là "tào
lao", mà nó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó trong việc giữ
trật tự cho xã hội thời bấy giờ.
4 Nhưng Phi-e-rơ đem mọi sự đã qua thuật cho họ THEO
THỨ TỰ VÀ TỪNG ĐIỀU
- Phi-e-rơ thuật lại theo thứ tự từng điều, nhưng không có bất cứ chuyện nào liên quan đồ ăn, hay luật pháp đồ ăn tinh sạch bị bỏ.
5 rằng: Ta đang cầu nguyện trong thành Giốp-bê,
lúc đó ta bị ngất trí đi, thấy sự hiện thấy: có vật gì giống như cái khăn lớn,
níu bốn chéo lên, từ trên trời sa xuống đến tận ta. 6 Ta XEM XÉT KỸ CÀNG, thấy trong đó có các loài
thú bốn cẳng trên đất, các thú rừng, các côn trùng và các loài chim trên trời. 7 Ta lại nghe có tiếng phán rằng: Hỡi Phi-e-rơ,
hãy chờ dậy, giết thịt và ăn. 8 Ta thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì không
bao giờ có vật chi dơ dáy hay chẳng sạch vào miệng tôi đâu. 9 Tiếng từ trời phán cùng ta lần thứ hai mà rằng: Chớ
coi điều Chúa đã làm cho tinh sạch như là dơ dáy. 10 Lời đó lặp lại ba lần, đoạn, thay thảy đều thâu
lại lên trời. 11 Kìa, cũng một lúc đó, ba người ở thành Sê-sa-rê
chịu sai đến cùng ta, đã tới tận cửa nhà ta ở.
12 Thánh Linh truyền cho ta phải đi với ba người
ấy, đừng nghi ngại gì. Nầy, sáu người anh em đây đồng đi với ta, và
chúng ta đều vào trong nhà Cọt-nây. 13 Người nầy thuật lại cho ta thể nào tại nhà mình
đã thấy một thiên sứ hiện đến và phán rằng: Hãy sai tới thành Giốp-bê, mời
Si-môn cũng gọi là Phi-e-rơ đến đây. 14 Người ấy sẽ nói cho ngươi những lời, mà nhờ
đó ngươi và cả nhà mình sẽ được cứu rỗi. 15 Ta mới khởi sự nói, thì có Thánh Linh giáng
trên họ, cũng như ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta.
16 Ta bèn nhớ lại lời Chúa đã truyền rằng: Giăng
đã làm phép báp-tem bằng nước; nhưng các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Thánh
Linh. 17 Vậy, nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ cũng một
ơn như cho chúng ta, là kẻ đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, thì ta là ai, mà
ngăn trở Đức Chúa Trời được?
18 Tín đồ nghe bấy nhiêu lời xong, đều thỏa thuận và ngợi khen Đức Chúa Trời, rằng: Vậy Đức Chúa Trời CŨNG ĐÃ BAN SỰ ĂN NĂN CHO NGƯỜI NGOẠI ĐỂ HỌ ĐƯỢC SỰ SỐNG!
- Các tín đồ nghe xong, ai cũng đều thỏa thuận và ngợi khen Cha, vì Cha ban sự ăn năn cho người ngoại
- Không nói thêm bất cứ điều gì liên quan bỏ đồ ăn tinh sạch
- Thống nhất nội dung với Công vụ 10.
19 Những kẻ bị tan lạc bởi sự bắt bớ xảy đến về dịp
Ê-tiên, bèn đi đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ và thành An-ti-ốt, chỉ giảng đạo
cho người Giu-đa thôi. 20 Nhưng trong đám những người ấy có một vài người
quê ở Chíp-rơ và Sy-ren đến thành An-ti-ốt, cũng giảng dạy cho người Gờ-réc nữa,
truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus cho họ. 21 Tay Chúa ở cùng mấy người đó, nên số người tin
và trở lại cùng Chúa rất nhiều. 22 Tiếng đồn thấu tai Hội thánh Giê-ru-sa-lem, hội
bèn sai Ba-na-ba sang đến thành An-ti-ốt. 23 Khi người đến nơi và thấy ơn Đức Chúa Trời,
bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa; 24 vì Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh
Linh và đức tin. Bấy giờ rất đông người tin theo Chúa. 25 Kế đó, Ba-na-ba đi đến thành Tạt-sơ, để tìm Sau-lơ, 26 tìm gặp rồi, bèn đưa đến thành An-ti-ốt. Trọn một
năm, hai người cùng nhóm với Hội-thánh và dạy dỗ nhiều người. Ấy là ở thành
An-ti-ốt, người ta bắt đầu xưng môn đồ là Cơ-rê-tiên.
- Kết thúc toàn bộ Công vụ 11, vẫn là niềm vui và sự rao giảng cho dân ngoại.
TỔNG KẾT:
- Phi-e-rơ đã sống ngày đêm với Chúa Giê-su trong nhiều năm. Qua lời dạy của Chúa Giê-su, ông chắc chắn hiểu rằng có một số loài vật hoàn toàn không thích hợp để làm thức ăn cho con người. Đó là lý do tại sao khi khải tượng này xuất hiện sau Chúa Giê-su nhiều năm, Phi-e-rơ vẫn đã từ chối ăn. Ông biết rằng luật pháp của Đức Chúa Trời về thịt sạch và thịt ô uế vẫn còn hiệu lực!
PHẦN PHỤ:
Lu-ca 24:25-45 Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng:
Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! 26 Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy,
mới được vào sự vinh hiển mình sao? 27 Đoạn, Ngài BẮT ĐẦU TỪ MÔI-E rồi kế đến MỌI
ĐẤNG TIÊN TRI mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong CẢ
KINH THÁNH. 28 Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì
Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa. 29 Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở
lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ.
30 Đang khi NGÀI NGỒI ĂN cùng hai người,
thì LẤY BÁNH, CHÚC TẠ, đoạn, bẻ ra cho họ. 31 Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài
thoạt biến đi không thấy. 32 hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường,
Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy
sao? 33 Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành
Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại, 34 nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện
ra với Si-môn.
35 Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường,
và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào. 36 Môn đồ đang nói chuyện như vậy, chính Đức Chúa
Jêsus hiện ra giữa đó mà phán rằng: Bình an cho các ngươi! 37 Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy
thần. 38 Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao
trong lòng các ngươi nghi làm vậy? 39 Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến
ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có.
40 Đang phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho
xem. 41 Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc,
và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: Ở đây CÁC NGƯƠI CÓ GÌ ĂN KHÔNG?
42 Môn đồ dâng cho Ngài MỘT MIẾNG
CÁ NƯỚNG. 43 Ngài nhận lấy MÀ ĂN trước mặt môn đồ. 44 Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta
còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng MỌI SỰ ĐÃ CHÉP VỀ TA TRONG LUẬT
PHÁP MÔI-SE, CÁC SÁCH TIÊN TRI, CÙNG CÁC THI THIÊN PHẢI ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM.
45 Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ
ĐƯỢC HIỂU KINH THÁNH.
- Bản dịch Công Giáo cứ bản Vulgata ở câu 42 có thêm câu ‘’Các đầy tớ liền dâng cho Người MỘT PHẦN CÁ NƯỚNG và MỘT TẢNG MẬT ONG’’
- Chúa Giê-su không bao giờ ăn heo, và kết thúc ở Lu-ca vẫn cho thấy Ngài ăn cá như ngày xưa mới gặp các môn đồ, như một lời nhắc nhở kỉ niệm, với nhiều ý nghĩa thuộc linh khác.
- Luật pháp Môi-se, các tiên tri hay Thi-thiên đều phải ứng nghiệm trên Chúa Giê-su, thì không thể nào nói Chúa Giê-su trong lúc đi giảng dạy, mà lại dạy trái ý luật pháp Cha, hoặc Ngài đi dạy bỏ đồ ăn tinh sạch cả.
HẾT PHẦN 5