CÁCH DẠY VỀ THỨC ĂN QUA 4 THỜI KỲ CỦA MỘT SỐ GIÁO HỘI:
- Thời kỳ Ê-đên chưa phạm tội, chỉ ăn rau cỏ và trái cây: Sáng thế ký 1:29-30 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi. 30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy. (Vậy trước khi loài người xa ngã thì loài người và muôn loài đều ăn đồ tốt lành như cỏ kết hột, cây sanh quả có hột giống, và cỏ xanh)
- Sau lũ thời kỳ Nô-ê thì ăn rau với loài động vật: Sáng thế ký 9:3 “Phàm VẬT CHI HÀNH ĐỘNG và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh. (Ăn đủ thứ)
- Thời Môi-se đồ ăn được ban theo luật lệ rõ ràng: Lê-vy ký 11:1-47, Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:2-3 bởi ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Đức Giê-hô-va đã chọn ngươi trong các dân trên mặt đất, hầu ngươi làm dân riêng của Ngài. Chớ ăn một vật chi gớm ghiếc.” (Ăn có phân biệt)
- Thời kỳ ân điển khi Giê-su đến: vì cớ giấc mơ Phi-e-rơ Công vụ 10 và Thánh Linh tỏ tường ở Công vụ 15 mà giờ có thể ăn mọi thứ.
Đó
là cách nói phân chia bốn thời kỳ của giáo hội.
CHÚNG TA XEM QUA THỬ BỐI CẢNH THỜI NÔ-Ê
Nô-ê tới Môi-se tầm 800-1000 năm tùy thông tin lịch sử.
Sáng thế ký 6:8-9 và 19-21 8 Nhưng Nô-ê ĐƯỢC ƠN trước
mặt Đức Giê-hô-va. 9 Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê
trong đời mình là một người CÔNG BÌNH VÀ TRỌN VẸN, ĐỒNG ĐI cùng Đức
Chúa Trời. 19 Về các loài sanh vật, ngươi hãy
dẫn xuống tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, hầu cho ở cùng
ngươi đặng giữ tròn sự sống; 20 chim tùy theo loại, súc vật tùy
theo loại, côn trùng tùy theo loại, mỗi thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, ĐỂ
NGƯƠI GIỮ TRÒN SỰ SỐNG CHO. 21 Lại, ngươi hãy LẤY CÁC THỨ ĐỒ ĂN ĐEM THEO,
đặng để dành LÀM LƯƠNG THỰC CHO NGƯƠI VÀ CÁC LOÀI ĐÓ.
- Câu 21 Nô-ê đem thức ăn (hạt, rau cỏ, thực vật) cho gia đình và các loài, có thể kéo dài khoảng 370, 371 hay 365 ngày.
- Lúc này văn mạch chỉ mới đề cặp là mỗi loài phải lấy cả cặp. Chưa nói rõ chi tiết số lượng của mỗi cặp đó sẽ mang ra sao.
- Nô-ê có lẽ sẽ không ăn con vật nào đó, vì câu 20 ‘’hầu cho ở cùng ngươi đặng giữ tròn sự sống’’.
- Chúng ta thấy Nô-ê được ơn, công bình và trọn vẹn, đồng đi với Đức Chúa Trời. Giống như Hê-nóc, vậy Nô-ê chắc chắn phải rất hiểu từng lời phán, sự phân biệt mà Giê-hô-va có truyền dạy về các con vật.
Sáng thế ký 7:1-2 Đức Giê-hô-va phán cùng Nô-ê rằng: Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu, vì VỀ ĐỜI NÀY ta thấy ngươi LÀ CÔNG BÌNH Ở TRƯỚC MẶT TA. 2 Trong các LOÀI VẬT THANH SẠCH, hãy đem theo MỖI LOÀI 7 CẶP, đực và cái; còn loài vật KHÔNG THANH SẠCH mỗi loài MỘT CẶP, đực và cái.
- Thanh sạch 7 cặp: Ý nghĩa thuộc linh thì số 7 là số trọn vẹn, hoàn hảo của Chúa, dư dật, đầy trọn, sung mãn.. Còn số 1 ngoài việc là duy nhất, nhưng như tượng trưng cho sự tối thiểu cần thiết để tồn tại, vừa đủ để hoàn thành mục tiêu duy nhất là tồn tại trên đất, không dự phần gì được vào việc dâng tế lễ, dư dật gì cả.
- Giê-hô-va đã căn dặn cho Nô-ê biết đâu là loài vật thanh sạch và không thanh sạch, vậy sự phân chia này đã diễn ra trước cả luật Môi-se ban hành. Đây thuộc về sự nhận thức và tư duy để biết đâu là con vật mà Giê-hô-va lựa chọn để ăn và làm tế lễ, lí do số lượng mang nhiều hơn.
- Khi dùng những từ thanh sạch và không thanh sạch ở thời Nô-ê, thì ý nghĩa này cũng trùng khớp với thông tin Lê-vy ký 11, ý nói những chữ thanh sạch và không thanh sạch này nói về việc chúng ta chọn lựa các con vật để ăn.
- Không phải vì các con vật không thanh sạch là xấu, không tốt lành, nhưng đang nói trong phạm vi khi chúng ta dùng các con vật đó để ăn, thì thịt hay qua chế biến sẽ không phù hợp cơ thể và tốt cho sức khỏe chúng ta. (Điều này khoa học đã chứng minh nên không phải bàn)
HÌNH ẢNH THUỘC LINH KHI THẢ QUẠ (1 LẦN) VÀ
BỒ CÂU (3 LẦN)
Sáng thế ký 8:6-12 Được BỐN
MƯƠI ngày, Nô-ê mở cửa sổ mình đã
làm trên tàu, 7 thả MỘT
CON QUẠ ra; quạ LIỆNG ĐI LIỆNG LẠI
cho đến khi nước giựt khô trên mặt đất. 8 Người cũng thả MỘT CON BỒ CÂU ra,
đặng xem thử nước hạ bớt trên mặt đất chưa. 9 Nhưng bò câu CHẲNG TÌM ĐƯỢC NƠI NÀO
đáp chân xuống, bèn bay trở về trong tàu cùng người, vì nước còn khắp cả
trên mặt đất. Nô-ê giơ tay bắt lấy bò câu, đem vào tàu lại với mình. 10 Đoạn, người đợi BẢY NGÀY nữa,
lại THẢ BỒ CÂU RA khỏi tàu; 11 đến chiều bò câu về cùng người,
và nầy, trong mỏ THA MỘT LÁ Ô-LI-VE TƯƠI;
Nô-ê hiểu rằng nước đã giảm bớt trên mặt đất. 12 Người đợi BẢY NGÀY nữa,
thả bò câu ra; nhưng chuyến nầy BỒ CÂU CHẲNG TRỞ
VỀ cùng người nữa.
- Cơn Đại Hồng Thủy: Cơn mưa kéo dài 40 ngày và 40 đêm (Sáng Thế Ký 7:12 mưa sa trên mặt đất trọn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm), tượng trưng cho thời kỳ phán xét trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
- Dân Y-sơ-ra-ên trong Đồng vắng: Họ lang thang 40 năm để thử thách đức tin và chuẩn bị cho thế hệ mới vào Đất Hứa.
- Môi-se: Ông ở trên núi Si-nai 40 ngày để nhận Luật Pháp.
- Chúa Giê-su: Ngài bị quỷ cám dỗ trong hoang mạc 40 ngày trước khi bắt đầu chức vụ.
Quạ là con vật
không tinh sạch, có khả năng kiếm ăn từ xác động vật chết trôi nổi hoặc đất ẩm
ướt. Đôi khi được xem là đại diện cho bản chất cũ của con người hoặc sự không
thanh sạch (vì là loài ăn xác chết). Nó thích nghi và ở lại với thế giới đầy
chết chóc và ô uế. Liệng đi liệng lại có thể giống hình ảnh sống thì như bám
vào Chúa (con tàu và người trung bảo Nô-ê), đậu trên tàu rồi lại đi săn xác chết
tiếp, sinh sôi tồn tại là nhờ những đồ vật ô uế của thế gian.
Bồ câu là loài chim thanh sạch và không ăn xác thối. Nó cần một nơi khô ráo, vững chắc để đậu. Là biểu tượng của sự thanh sạch, linh hồn, và sau này là Thánh Linh (trong Tân Ước). Nó chỉ tìm được sự yên nghỉ và hài lòng ở nơi khô ráo, thanh sạch.
Ý NGHĨA THUỘC LINH 3 LẦN THẢ BỒ CÂU
Lần 1: Bồ câu không tìm được chỗ đậu và quay về Tàu
- Tình trạng: nước còn quá nhiều trên mặt đất; không có nơi khô ráo để nghỉ ngơi.
- Hình ảnh linh hồn con người trong một thế giới ngập tràn tội lỗi và hỗn loạn. Linh hồn không tìm thấy sự an nghỉ thật sự, mà phải quay về nơi duy nhất an toàn: Con Tàu (biểu tượng của Chúa Giê-su Christ/Sự Cứu Rỗi). Nó thể hiện sự bất lực của con người khi tự mình tìm kiếm hòa bình bên ngoài Thiên Chúa.
- Hoặc một ý khác như sự ô uế khắp đất như chính bản thân ai đó, khiến Thánh Linh Cha không hiện diện ở cùng được.
Lần 2: Bồ câu trở về với cành ô-liu tươi trên mỏ
- Tình trạng: nước đã rút đáng kể, thực vật bắt đầu mọc lên.
- Cành ô-liu tươi là biểu tượng của sự sống mới, sự bắt đầu lại và hòa bình, Đức Chúa Trời đã ngưng cơn thịnh nộ. Về mặt thuộc linh, nó là tin mừng về sự tha thứ và giao ước mới. Nó đại diện cho lời hứa của Thiên Chúa về sự cứu chuộc và khả năng tái sinh của nhân loại thông qua ân điển.
- Cây ô-liu được dùng làm hình ảnh thuộc linh để đại diện cho dân Y-sơ-ra-ên, và mối quan hệ giao ước của họ với Đức Chúa Trời. Dân Ngoại được ví như những cành ô-liu hoang dại được tháp vào gốc ô-liu trồng (tức là được tháp vào sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thông qua Chúa Giê-su Christ), nhấn mạnh tính phổ quát của sự cứu rỗi và sự cẩn trọng cần có trong đức tin.
Rô-ma 11:17 Ví bằng có một hai nhánh bị cắt đi, và ngươi vốn là cây ô-li-ve hoang được tháp vào chỗ các nhánh ấy để có phần về nhựa và rễ của cây ô-li-ve.
Lần 3: Bồ câu bay ra và không quay trở lại
- Tình trạng: đất đã khô cạn hoàn toàn và có thể sinh sống được; sứ mệnh của bồ câu đã hoàn thành.
- Bồ câu tìm thấy chỗ đậu vĩnh viễn, tượng trưng cho việc đạt được sự an nghỉ vĩnh cửu hoặc sự sống trọn vẹn trong Thiên Chúa.
- Trong Tân Ước, Bồ câu là biểu tượng của Thánh Linh. Sự không trở lại này có thể mang ý nghĩa rằng Thánh Linh đã được ban xuống (như đã thấy tại lễ Ngũ Tuần) để hướng dẫn và ở cùng Hội Thánh trong thế giới mới, không cần phải trở về tàu nơi cũ nữa. Họ bắt đầu vào thời kỳ bình an thật sự.
- Bản chất có thể là chỉ một con bồ câu thả ra 3 lần, thể hiện 3 thời kỳ thánh Linh của Cha hành động.
- Ban đầu thì rời khỏi loài người vì xấu xa, sau đó ban Chúa Giê-su cứu rỗi dân ngoại, và cuối cùng là vào nơi an nghỉ mãi mãi.
- Khi bước vào thế giới mới, thì điều Nô-ê làm đầu tiên là bắt các loài thanh sạch dâng lên Giê-hô-va, đó như là hình ảnh chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời trong trời mới đất mới. (Sáng thế ký 8:20). Hành động này khẳng định sự nhận biết và tuân thủ của Nô-ê đối với loại thú vật được Chúa chấp nhận.
- Các con vật thanh sạch được Đức Chúa Trời biệt riêng ra thời Nôi-sê để làm của lễ chuẩn bị - một thực hành bắt nguồn từ Vườn Địa Đàng ngay sau khi Sa ngã, và đến lượt nó sẽ được luật pháp hóa trong sự thờ phượng của Y-sơ-ra-ên thời Môi-se.
- Chúng là một phần không thể thiếu trong việc triển khai kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời, mà cuối cùng đã được ứng nghiệm trong Đấng Christ là Chiên Con đã đến
- Nhưng tất nhiên Đại hồng thủy chỉ xóa loài người khỏi đất chứ không xóa lòng loài người khỏi sự ác…đó là lí do chúng ta cần sự cứu chuộc của Chúa Giê-su, để có thể trở nên tốt lành trước mặt Giê-hô-va.
Sáng thế ký 9:2-6 Các loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều SẼ KINH KHỦNG và BỊ PHÚ VÀO TAY NGƯƠI. Phàm vật chi HÀNH ĐỘNG (REMES) và có sự sống thì DÙNG LÀM ĐỒ ĂN cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó NHƯ TA ĐÃ CHO THỨ CỎ XANH. 4 Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu. 5 Quả thật, ta sẽ đòi máu của sự sống ngươi lại, hoặc nơi các loài thú vật, hoặc nơi tay người, hoặc nơi tay của anh em người. 6 Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại; vì Đức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài.
- Để ý câu 2 là các loài vật đó sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi, đều này cho thấy những con vật tinh sạch sẽ dễ dàng bị săn bởi con người, thậm chí được chăn dắt bởi các đứa trẻ như trâu, bò, dê, cừu, gà. Khác với việc cai trị mọi loài ở vườn Ê-đên. Trong khi đó các con vật không tinh sạch đều là những con săn mồi, hung dữ, chiến đấu, nọc độc, hoặc cũng không dễ dàng nghe lời hay theo sự dẫn dắt của con người.
- Ngày xưa chưa có công cụ hiện đại, các dân phải sống chung với nhau, hợp sức để săn bắt, thì rõ ràng các con vật tinh sạch sẽ dễ dàng, hơn là đối đầu với sư tử, báo, beo, gấu, hổ, voi, tê giác, heo rừng, rắn, cá sấu, chim săn mồi…(Coi như lọc ra được duy nhất con heo có thể dễ, nhưng heo rừng thì chưa chắc hiền)
- Cũng như các loài đó phải được tốt lành khi ăn vào ‘’như Ta đã cho thứ cỏ xanh’’, ngay cả thực vật như một số loài nấm, loài người còn phải biết phân biệt nấm độc, hay với một số cây không an toàn khi ăn. Thì chắc chắn các loài ăn vào mà phải tốt như những thứ cỏ xanh, thì có thể cân nhắc phải nghĩ đến là những loài vật tinh sạch.
- Vì các loài Cha tạo nên không phải xấu, nhưng nó được định nghĩa không tinh sạch hay tinh sạch qua việc chúng ta lựa chọn con vật đó làm đồ ăn vào miệng (Không phải vấn đề pha chế sạch hay dơ).
- Nô-ê được Đức Chúa Trời chỉ dẫn để phân biệt giữa thú vật tinh sạch và thú vật không tinh sạch (ô uế) trước khi vào Tàu. (Sáng Thế Ký 7:2), và trước khi lập các giao ước, nên nếu nói luật phân biệt con vật tinh sạch và không tinh sạch chỉ nằm ở một giao ước nào đó, đã làm trọn nên bỏ là sai.
- Sự phân biệt này cho thấy Nô-ê đã có hiểu biết về các loại thú vật được chấp nhận về mặt nghi lễ hoặc ăn uống.
- Một đứa con, nó yêu mến Cha, thấy Cha phân biệt đồ sạch đồ dơ, mà bây giờ nó lại chọn đồ dơ được, thì hỏi đứa con đó có vấn đề không? Trong khi nó được gọi là đứa con ngoan, làm theo ý Cha, công bình. Vậy Nô-ê được hướng dẫn làm theo chuẩn việc đóng tàu, vậy các con vật tinh sạch phân ra mà Nô-ê vẫn không rõ?
- Môi-se và một số người trong các tầng lớp có thể được xem là chép Torah, đặc biệt là Sáng thế ký, như vậy khi thông tin có chữ ‘’loài vật tinh sạch’’ và ‘’loài vật không tinh sạch’’ được chép lại, chắc chắn nằm trong tư duy và trí hiểu liên quan đến đồ ăn của Lê-vy ký 11.
Khả năng dư dật về thức ăn tinh sạch:
- Số lượng thú vật tinh sạch được mang lên Tàu là bảy cặp (7 đực và 7 cái) mỗi loại. (Sáng Thế Ký 7:2-3)
- Số lượng lớn hơn (so với một cặp của thú vật không tinh sạch) cho thấy có sự dự trữ dư dật về thú vật tinh sạch.
- Điều này tạo nên một khả năng cao rằng gia đình Nô-ê sẽ sử dụng nguồn thức ăn tinh sạch dồi dào này để duy trì sự sống.
- Mặc dù ý kiến khách quan nữa là bò, chiên, dê sẽ đẻ ít và chậm hơn heo, ngựa, thỏ, cá thì khó so sánh, nhưng chim tinh sạch thì có thể đẻ nhiều hơn chim không tinh sạch.
- Nhưng nói chung số lượng nhiều con tinh sạch hơn vẫn đủ để thấy làm được nhiều việc, từ ăn uống đến tế lễ, ngoài ra có thể làm áo lông, lều, trại, cung cấp sữa.
Kết luận/Giả định:
- Khó có thể xảy ra việc gia đình Nô-ê lại chọn ăn những con vật không tinh sạch (ô uế), sau khi Đức Chúa Trời đã chỉ cho ông cách phân biệt và cung cấp đủ thú vật tinh sạch cho cả sự sống còn và thờ phượng.
- Câu quan trọng ở đây là ‘’NHƯ TA ĐÃ CHO THỨ CỎ XANH’’. Đức Chúa Trời ban đầu cho con người ăn thực vật, cỏ xanh, tốt lành, và giờ ban các con vật như cỏ xanh để gia đình Nô-ê ăn, vậy bản chất các con vật được ăn đó phải tinh sạch, tốt cho sức khỏe như rau cỏ xanh. Có ai nói ăn rau bị bệnh, gây hại, không tốt cho sức khỏe hay không? Vậy có thể suy ra các con vật Nô-ê ăn cũng phải tốt y như cỏ xanh vậy.
- Các con vật tinh sạch trong bối cảnh đó được phân ra để Nô-ê biết lựa chọn ăn và tế lễ khi xuống tàu, cũng có thể trong một năm trên tàu để ghi nhớ. Còn nếu không Ngài đợi xuống thuyền rồi hãy phân chia con tinh sạch lẫn không tinh sạch cũng được mà? Vậy chắc chắn Nô-ê có học tập, làm theo và phân biệt các con vật khi ở trên tàu, cũng như sau một năm trên tàu thì biết sự sinh hoạt sạch dơ của các loài đó ra sao (Không ý nói Nô-ê ăn các con vật trên tàu nhé).
PHÂN TÍCH TỪ NGỮ ‘’PHÀM VẬT CHI
HÀNH ĐỘNG’’ (REMES)
Sáng thế ký 9:2-6 Các
loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng
các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi. Phàm VẬT CHI HÀNH ĐỘNG và
có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó NHƯ TA ĐÃ CHO THỨ CỎ XANH
- Chữ ‘’vật chi hành động’’ trong tiếng Hê-bơ-rơ là רֶמֶשׂ (phiên âm là remes hoặc rémès) xuất hiện rất nhiều trong Cựu Ước, ví dụ: rắn, thằn lằn, hoặc các loài vật bò khác (Loài bò sát, loài di chuyển, loài vật nhỏ, hoặc côn trùng.)
- Nghĩa đen của remes là "bò sát" hoặc "sinh vật di chuyển gần mặt đất" (creeping/swarming thing). Trong Sáng Thế Ký, remes là một thuật ngữ trung lập dùng để mô tả mọi sinh vật di chuyển theo kiểu này như một phần của sự sáng tạo. Phạm vi của nó rất rộng, bao gồm tất cả các loài bò sát và côn trùng.
Các sách có chứa từ REMES (Loài bò sát/Côn trùng)
1. Sáng Thế Ký (Genesis): Khoảng 10 lần.
- Sáng thế ký 1:24-25 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tùy theo loại, tức súc vật, CÔN TRÙNG (remes), và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy. 25 Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và các CÔN TRÙNG (remes) trên đất tùy theo loại, Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. 26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài CÔN TRÙNG (remes) bò trên mặt đất, và khắp cả đất.
- Sáng Thế Ký 6:7 và 20 Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật, loài CÔN TRÙNG (remes), loài chim trời; vì ta tự trách đã dựng nên các loài đó. 20 chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, CÔN TRÙNG (remes) tùy theo loại, mỗi thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, để ngươi giữ tròn sự sống cho.
- Sáng Thế Ký 7:14 và 23 Họ và các loài, thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, CÔN TRÙNG (remes) trên mặt đất tùy theo loài, chim tùy theo loại, và hết thảy vật nào có cánh, 23 Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài CÔN TRÙNG (remes), cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê và các loài ở với người trong tàu mà thôi.
- Sáng thế ký 8:17 Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của các xác thịt đã ở cùng ngươi: nào chim, nào thú, nào CÔN TRÙNG (remes) bò trên đất, hầu cho chúng nó sanh sản, và thêm nhiều trên mặt đất.
- Sáng thế ký 8:19 Các thú, rắn, chim cùng mọi vật hành động (remes) trên mặt đất tùy theo giống đều ra khỏi tàu. (Câu 19 thì vẫn ghi thú là một loại khác, và dịch remes là mọi vật hành động, mất cả giống loài côn trùng)
- Sáng thế ký 9:3 Phàm vật chi hành động (remes) và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.
Vậy những câu có chứa chữ ‘’phàm vật chi hành động’’, đa số được dịch là ‘’côn trùng’’ hay vật chi ‘’hành động’’, không phải để nói các con thú vật to lớn như bò, dê, heo, gấu, trâu, báo, hổ, ngựa v…v…Không thể dùng chữ nầy để nói rằng được ăn đủ mọi thứ hỗn tạp. Chữ cho các con thú là ḥay·yaṯ חַיַּ֣ת (beast)
2. Các Vua I (1 Kings): 1 lần
- 1 Các Vua 4:33 (Bản TL) Người luận về cây cối, từ cây bá hương của Li-ban cho đến chùm kinh giới mọc ra nơi vách; người cũng có luận về loài vật, chim, LOÀI CÔN TRÙNG (remes), và cá.
- 1 Các Vua 5:13 (Thế Thuấn): Ông đã bàn đến thảo mộc, từ bá hương ở (dãy) Liban cho đến bài hương mọc ở vệ tường; ông đã bàn đến loại thú, loài chim, và CÔN TRÙNG (remes), loài cá.
- 1 Các Vua 5:13 (Bản CG) Vua nói về các thứ cây, từ cây bá hương ở Li-băng cho tới cây ngưu tất mọc ở bờ tường; vua cũng bàn tới các thú vật, các loài chim, các thứ RẮN RẾT (remes) và các loại cá
Bản Tin Lành và
bản Công Giáo có khác nhau về chương và đoạn, vì đó là cách hiểu và lựa chọn
phân chia của hai bên, thì bản TL vẫn dịch là côn trùng, giống với bản Công
Giáo của linh mục Thế Thuấn, còn bản Công Giáo phổ thông thì dịch là rắn rết.
Chúng ta bắt đầu thấy có tư tưởng dịch thuật khác nhau ở đây.
3.
Thi Thiên
(Psalms): 1 lần
- Thi Thiên 148:10 (Bản TL) Thú rừng và các loài súc vật, Loài CÔN TRÙNG (remes) và loài chim,
- Thánh Vịnh 148:10 (Bản CG) Thú vật rừng hoang cùng là gia súc, LOÀI BÒ SÁT và mọi giống chim trời.
Một bên dịch là
côn trùng, và bản CG thì dịch là bò sát.
4.
Ê-xê-chi-ên
(Ezekiel): 2 lần
- Ê-xê-chi-ên 8:10 (Bản TL) Vậy ta vào, xem thấy; và nầy, có mọi thứ hình tượng CÔN TRÙNG (remes) và thú vật gớm ghiếc, mọi thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên đã vẽ trên chung quanh tường.
- Êzêkiel 8:10 (Thế Thuấn) Tôi vào và nhìn xem, thì này: Ðủ thứ hình tượng RẮN RÍT (remes), thú vật, những đồ xú uế, và tất cả những thần dơ dáy của Nhà Israel khắc chạm trên vách, tứ phía xung quanh.
- Ê-xê-chi-ên 38:20 (Bản TL) Trước mặt ta, những cá biển, những chim trời, những loài thú đồng, hết thảy những CÔN TRÙNG (remes) bò trên đất, hết thảy những người ở trên mặt đất, sẽ đều run rẩy. Những núi đều bị quăng xuống, những vách đá đều đổ xuống, hết thảy những tường đều bị sụp xuống đất.
- Ê-zêkiel 38:20 (Thế Thuấn) Trước nhan Ta, (hết thảy) đều run khiếp: Cá biển, chim trời, dã thú, tất cả RẮN RÍT (remes) bò trên đất, và loài người hết thảy trên mặt đất. Núi non sập xuống. Những rẫy triền đồi vỡ lở. Mọi thành lũy lăn nhào xuống đất.
Một bên dịch là côn trùng, và một bên là rắn
rít thuộc nhóm bò sát.
5.
Ô-sê (Hosea): 1 lần
- Ô-sê 2:18 (Bản TL) Trong ngày đó, ta sẽ vì chúng nó lập ước cùng những thú đồng, những chim trời, và CÔN TRÙNG (remes) trên đất. Ta sẽ bẻ gãy và làm cho biến mất khỏi đất nầy những cung, những gươm, và giặc giã; và sẽ khiến dân sự được nằm yên ổn.
- Hô-sê 2:20 (Thế Thuấn) Trong ngày ấy, vì chúng, Ta sẽ kết giao ước, với dã thú, với chim trời, và CÔN TRÙNG (remes) nơi ruộng đất. Cung kiếm, chiến tranh, Ta sẽ bẻ quăng đi khỏi xứ, Ta sẽ cho chúng được ngủ nghỉ yên hàn. (Bản công giáo là ở câu 20)
- Hô-sê 2:20 (Bản CG) Trong ngày đó, vì dân Ta, Ta sẽ thiết lập một giao ước với thú vật đồng hoang, với chim chóc trên trời, với loài BÒ SÁT (remes) dưới đất: Ta sẽ bẻ gãy cung nỏ gươm đao, chấm dứt chiến tranh trên toàn xứ sở, và Ta sẽ cho chúng được sống yên hàn.
6. Ha-ba-cúc (Habakkuk): 1 lần
- Ha-ba-cúc 1:14 (Bản TL) Sao Ngài khiến loài người như cá biển và như loài CÔN TRÙNG (remes) vô chủ?
- Khabaruc 1:14 (Bản CG) Ngài xử với con người như với cá biển, như CÔN TRÙNG (remes) không người trông coi.
- Khabaruc 1:14 (Bản Thế Thuấn) Người xử với loài người như với cá biển, như SÂU BỌ (remes) không ai làm chủ.
Bản TL và bản CG phổ thông dịch chung là côn trùng, còn bản CG Thế Thuấn dịch là sâu bọ.
Tóm lại:
- Chúng ta đã thấy phạm vi mà chữ ‘’vật chi hành động’’ (Remes) trải dài qua nhiều câu gốc, thì đa số đều dịch là côn trùng, bò sát, sâu bọ, rắn rít, không hề liên quan đến các con vật to lớn như chữ ḥay·yaṯ חַיַּ֣ת (beast), vậy không thể nào nói rằng Sáng Thế Ký 9:3 ‘’phàm vật chi hành động’’ để ý nói Giê-hô-va cho ăn đủ thứ loại hỗn tạp. Và đặc biệt các con được ăn trong phạm vi ‘’như Ta đã cho thứ cỏ xanh’’ phải tốt lành như cỏ xanh mà Cha ban.
- Chữ Remes trong Lê-vy ký 11 đã được xác định rõ hơn là những con remes nào không được ăn, bị cho là ô uế. Vậy có phải là do chữ remes này bị thay đổi, cải tiến hay sao? Ví dụ So sánh Cũng như từ "thịt" trong tiếng Việt. Trong bối cảnh chung, nó là thức ăn. Nhưng trong bối cảnh nhà chùa, nó có nghĩa hẹp là thức ăn bị cấm (thức ăn không thanh tịnh).
- Ý nghĩa của từ "thịt" không đổi, nhưng ứng dụng của nó bị giới hạn bởi luật lệ. Qua đó chúng ta có thể xem xét lại chữ Remes được dùng ở Sáng thế ký là những con nào được ăn, và không được ăn. Nếu chúng ta tin rằng có sự thống nhất của các con vật trong mắt Giê-hô-va.
CÁC CON VẬT TRONG PHẠM VI CHỮ REMES:
Các con vật bò sát hay điểm chung là bò trườn bằng bụng thì đều bị Giê-hô-va cấm. Nhưng một số quan điểm Do Thái thì lại nói ăn trứng lúc chưa có phôi, hoặc không có vệt máu thì dù của con không tinh sạch vẫn được. Nhưng quan điểm này không được chấp nhận rộng rãi, đã là trứng của con không tinh sạch thì sẽ là không tinh sạch.
Danh sách bò sát:
- Rùa (Testudines): Rùa biển, Rùa cạn (đồi mồi, vích, ba ba,...), tất cả các loài rùa đều đẻ trứng.
- Cá Sấu (Crocodilia): Cá sấu, cá sấu mõm ngắn (Caiman), cá sấu Mỹ (Alligator), Tất cả các loài cá sấu đều đẻ trứng, thường làm tổ gần nước.
- Thằn Lằn (Squamata), Kômodo: Thằn lằn bóng (Skinks - đa số), Tắc kè, Kỳ đà, Rồng Komodo, Iguana,... Đa số đẻ trứng, nhưng một số loài đã tiến hóa để đẻ con (noãn thai sinh hoặc thai sinh).
- Rắn (Squamata): Rắn hổ mang, Trăn, Rắn ráo, nhiều loài rắn nước,... Đa số đẻ trứng, nhưng có nhiều loài rắn độc và rắn nước đẻ con.
Danh sách này bao gồm bốn loài thuộc bộ châu
chấu (Locust, Grasshopper, Cricket):
- Châu chấu (Grasshopper - Arbeh)
- Cào cào (Locust - Sâl`âm)
- Châu chấu dạng dế, dế mèn (Cricket - Chârgol)
- Châu chấu khác (Grasshopper/Locust - Châgâv)
Vậy là có 2 loài rõ nhất liên quan remes, tùy chúng ta xem sự thống nhất của Kinh Thánh để tự lựa chọn, tất nhiên liên quan đến côn trùng và bò sát vẫn còn nhiều con khác nữa, nhưng các con đó rất dễ nhận biết, vì đó không phải các con phổ thông chúng ta chọn làm đồ ăn.
QUAY TIẾP NGƯỢC LẠI VƯỜN Ê-ĐÊN ĐỂ XEM SỰ
THỐNG NHẤT
Sáng thế ký 4:2-5 Ê-va
lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm NGHỀ CHĂN CHIÊN, còn Ca-in thì
nghề làm ruộng. 3 Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ
sản làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. 4 A-bên cũng dâng chiên đầu
lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật
của người; 5 nhưng chẳng đoái đến Ca-in và
cũng chẳng nhận lễ vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt
- Như vậy ta thấy con vật làm loài người phạm tội đầu tiên là con rắn, không tinh sạch, nhưng con vật để dâng cho Giê-hô-va lúc chưa có luật pháp Lê-vy ký 11 là con chiên tinh sạch. Vậy chúng ta có nghĩ các tổ phụ biết con rắn là vậy, thì các tổ phụ hay người Do Thái có ăn rắn không?
Hê-bơ-rơ 11:4 Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ TỐT HƠN của Ca-in, và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài NHẬM LỄ VẬT ẤY, lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.
Hê-bơ-rơ 11:37 Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ, bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những DA CHIÊN DA DÊ, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi.
- Vậy tỉ lệ dẫn đến Nô-ê cũng dâng vật tinh sạch, ăn tinh sạch sẽ rất cao. Vì đó là tính hợp lý và thống nhất với tổ phụ đời trước.
🐑 Các Loại Vật Nuôi
Chính
Trong thời kỳ từ Nô-ê đến Môi-se, nghề chăn nuôi là một
hoạt động kinh tế và sinh kế cực kỳ quan trọng.
Đa số các nhân vật Kinh Thánh trong thời kỳ này, đặc biệt là các Tổ
Phụ (Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp) và dòng dõi của họ, chủ yếu là người chăn
chiên (cừu) và chăn dê, cưỡi thì cưỡi lừa, lạc đà, ngựa v..v...
Chăn nuôi gia súc là dấu hiệu của sự giàu có và là nguồn cung cấp chính
cho nhiều nhu cầu:
Chiên (Cừu): Đây là loại vật nuôi phổ biến nhất và quan trọng nhất. Cừu cung
cấp:
- Thịt (để ăn và làm tế lễ).
- Lông (để dệt vải, làm quần áo và lều trại).
- Sữa (để uống và làm phô mai).
Dê: Cũng rất phổ biến, thường được chăn nuôi xen kẽ với cừu. Dê cung cấp:
- Thịt (để ăn và làm tế lễ).
- Da (để làm túi đựng nước, lều trại).
- Sữa.
Bò/Trâu: Được chăn nuôi, nhưng chủ yếu để lấy sức kéo (cày ruộng, kéo xe),
và cũng để lấy thịt và sữa. Chúng không phải là trọng tâm chính
của những người du mục chăn thả như các Tổ Phụ.
Lạc Đà, Ngựa, lừa (Camel): Rất quan trọng để vận chuyển hàng hóa và người
đi lại trên các sa mạc hoặc vùng đất khô cằn.
CÙNG COI CÁC TỔ PHỤ ĐỨC TIN ĂN CON GÌ:
ÁP-RA-HAM: Sáng thế ký 18:6-8 Đoạn, Áp-ra-ham lật đật vào trại đến cùng Sa-ra mà rằng: Hãy mau
mau lấy ba đấu bột lọc nhồi đi, rồi làm bánh nhỏ. 7 Áp-ra-ham bèn chạy lại bầy, bắt một CON BÒ CON NGON, giao
cho đầy tớ mau mau nấu dọn; 8 rồi lấy mỡ-sữa và SỮA cùng con bò con đã nấu xong, dọn ngay
trước mặt các đấng; còn người thì đứng hầu trước mặt, dưới cội cây. Vậy các
đấng đó bèn ăn. (Rất may là Áp-ra-ham không lật đật đi bắt heo, lấy sữa heo)
- Ngay cả việc Áp-ra-ham dâng tế lễ thì đã được YHWH thay Y-sác bằng con chiên đực. (Như vậy sự tiếp trợ vật phẩm để dâng tế lễ thì YHWH cũng đã ban đồ ăn tinh sạch).
Y-SÁC: Sáng
thế ký 26:12-24
Y-sác gieo hột giống trong xứ đó; năm ấy gặt được bội trăm phần; vì Đức
Giê-hô-va đã ban phước cho. 13 Người nên thạnh vượng, của cải
càng ngày càng thêm cho đến đỗi người trở nên rất lớn. 14 Người có nhiều BẦY CHIÊN, BẦY
BÒ và tôi tớ rất đông; bởi cớ ấy, dân Phi-li-tin đem lòng ganh ghẻ.
GIA-CỐP: Sáng
thế ký 27:14 Vậy, Gia-cốp đi bắt hai dê con, đem lại cho mẹ, làm món ngon, tùy
theo cha sở thích. (Rất may là Gia-cốp không đi bắt hai con heo, như vậy là
Y-sác thích ăn thịt dê.)
(VỀ
QUÊ BÀ CON) Sáng thế ký 29:1-6 Đoạn,
Gia-cốp lên đường, đi đến xứ của dân Đông phương. 2 Người nhìn xem, thấy một cái giếng
trong đồng ruộng, gần đó có BA BẦY CHIÊN nằm nghỉ, vì nơi nầy là chốn
người ta cho các bầy chiên uống nước. Hòn đá đậy trên miệng giếng rất lớn. 3 CÁC BẦY CHIÊN đều hiệp lại
đó, rồi họ lăn hòn đá trên miệng giếng ra, cho các bầy uống nước; đoạn, lăn đá
lại chỗ cũ, đậy trên miệng giếng. 4 Gia-cốp hỏi mấy tay chăn
chiên rằng: Hỡi các anh! các anh ở đâu đây? Bọn đó đáp rằng: Chúng tôi ở
Cha-ran (nơi ở của Tha-rê và Áp-ra-ham) đến. 5 Người hỏi: Các anh có biết
La-ban, con trai Na-cô, chăng? Đáp rằng: Chúng tôi biết. 6 Lại hỏi: Người đó được mạnh giỏi
chăng? Đáp rằng: Người vẫn được mạnh giỏi, và nầy, Ra-chên, con gái người, đang
đi đến CÙNG BẦY CHIÊN kia.
GIÔ-SÉP: Sáng
thế ký 37:2 Đây là chuyện
dòng dõi của Gia-cốp. Giô-sép, TUỔI MƯỜI BẢY, CHĂN CHIÊN với các
anh mình; người đi kết bạn cùng con của Bi-la và con của Xinh-ba, hai vợ cha
mình. Giô-sép thuật lại với cha các chuyện xấu của họ nói.
Sáng
thế ký 41:57 Xứ càng đói nhiều nữa; vả, vì khắp thế
gian đều bị đói quá, nên đâu đâu cũng đổ đến Ê-díp-tô MUA LÚA nơi
Giô-sép bán.
Sáng
thế ký 46:31-32
Đoạn Giô-sép nói cùng anh em và người nhà cha mình rằng: Tôi sẽ lên trước tâu
cho Pha-ra-ôn hay rằng: Anh em và cả nhà cha tôi, ở xứ Ca-na-an đã đến cùng
tôi. 32 Họ vốn LÀM NGHỀ CHĂN CHIÊN, nuôi
bầy súc vật; có dẫn theo hết bầy CHIÊN, BÒ và các tài vật của
mình.
NHỮNG
TÌNH TIẾT HỢP LÝ VÌ SAO CHÚNG TA CÓ THỂ SUY LUẬN?
Luật pháp và Tội lỗi: Luật pháp không cứu rỗi mà chỉ có tác dụng vạch trần tội lỗi của chúng ta, để chúng ta biết điều nào để không vi phạm, tin nhận Chúa Giê-su tha thứ, sống đời sống mới.
Cơ thể như Bình xăng: Dạ dày con người (và bình xăng ô tô) được thiết kế cho loại nhiên liệu cụ thể. Chúng ta không thể đưa bất cứ thứ gì vào hệ thống mà nó không được thiết kế để "tiêu hóa".
Mục đích Tạo hóa: Không phải mọi sinh vật/thực vật (như cỏ dại, cây độc, hoặc thịt động vật) đều được tạo ra với mục đích làm thức ăn, chúng có mục đích khác.
Luật về Thực phẩm: Quy luật về thức ăn thích hợp là một sự mặc khải cơ bản từ Thiên Chúa về những gì cơ thể con người có thể tiêu hóa đúng cách.
- Nó không phải là luật tâm linh (Mười Điều Răn) hay luật nghi lễ (bị bãi bỏ bởi Giê-su đến).
- Nó là quy luật tự nhiên liên quan đến cấu trúc cơ thể và các định luật vật lý/vũ trụ của YHWH (Thiên Chúa).
- Cấu trúc Cơ thể Không đổi: Cấu trúc cơ thể người và động vật không thay đổi qua các thời kỳ (Đại Hồng Thủy, Chúa Giê-su chịu chết, v.v.). Điều gì không thích hợp làm thức ăn trước đây thì vẫn không thích hợp bây giờ. Nô-ê lẫn tổ phụ chưa hề thở dưới nước, thì chúng ta ngày nay vẫn vậy, cũng chẳng ai uống nước biển thay cho nước lọc.
- Thói quen và Nhận thức: Việc chúng ta ăn gì chủ yếu là do thói quen và nhận thức xã hội (người này ăn chuột, người kia kinh tởm hàu sống), giống như đứa trẻ không có kiến thức.
- Ví dụ Trái táo và Thỏ: Theo một số người ăn chay nói, bản năng tự nhiên của trẻ em khi được đưa táo và thỏ, thì sẽ ăn trái táo và chơi với con thỏ, chứng tỏ con người không phải bản chất để ăn thịt (Tất nhiên đây là ý kiến người ngoại)
SO
SÁNH CÂU TRẢ LỜI Ê-VA KHÁC CÂU GIÊ-HÔ-VA PHÁN:
- Bóp méo Mệnh lệnh (Chạm vào Cây): Đức Chúa Trời (YHWH) không cấm chạm vào cây, nhưng Ê-va đã thêm điều này vào lệnh cấm. Việc bóp méo này thể hiện cảm xúc của bà về sự bất công, cho rằng Chúa cấm cả việc chạm vào.
- Giảm nhẹ Hình phạt (Cái chết): Ê-va đã thay đổi lời cảnh báo rõ ràng của Chúa ("Ngươi chắc chắn sẽ chết") thành một khả năng nhẹ hơn ("kẻo ngươi phải chết"). Điều này cho thấy bà nghĩ hình phạt là quá nghiêm khắc và đang che giấu/giảm nhẹ lời Chúa phán.
- Ảnh hưởng của Sa-tan và Sự Vô tội Giả tạo: Sa-tan đã ảnh hưởng đến tâm trí Ê-va, khiến bà thay đổi một phần thông tin Chúa truyền.
- Bài học về Giao tiếp: Giống như Ê-va, con người có xu hướng chỉ nghe những gì mình muốn nghe và lặp lại thông tin theo cách biện hộ cho bản thân, nhằm thể hiện sự vô tội trước lỗi lầm.
PHẦN PHỤ:
- Nếu đọc sách Enoch ở chương 6, chúng ta thấy thời đại Nô-ê rất khủng khiếp, vì các thiên thần phản loạn ăn nằm với phụ nữ, dạy bùa chú ma thuật, mang thai người khổng lồ cao đến 13,2 đến 15 mét.
- Người khổng lồ đó ăn sạch sẽ đồ ăn thức uống, các loài vật, đến nỗi chẳng còn gì phục vụ cho con người. Phá nát cả hành tinh, sau đó mục tiêu là ăn thịt loài người, chúng ăn cả thú rừng, chim chóc và cá, thậm chí ăn thịt lẫn nhau và dùng máu để uống.
- Các thiên thần dạy con người chế tạo kiếm, dao, khiên, áo giáp, cách làm đồ trang trí, trang điểm quyến rũ, đánh phấn tô da và luyện kim. Một số thiên thần khác thì dạy về dấu chỉ điềm báo, chiêm tinh, dạy về các ngôi sao, dạy cách lừa dối một ai đó.
- Như vậy tối thiểu thiên đàng vẫn có những luật nào đó mà các thiên thần này đã phá, dẫn đến người khổng lồ và loài người xấu xa trên mặt đất, để rồi phạm vào dẫn đến cơn Đại Hồng Thủy.
Bonus
nhỏ 7 điều luật Nô-ê:
Bảy Điều Luật Nô-ê (Noahide Laws) theo Do Thái giáo, thì đa số là do
người Do Thái diễn ý và nói thêm, để từ đó ra luật Nô-ê. Vì người Do Thái muốn
có một bộ luật cho toàn bộ con người và các dân, họ lấy đích là từ khi Hồng
Thủy reset lại cuộc chơi, và Nô-ê như là người ban đầu tạo ra luật cơ bản về
đạo đức, mặc dù Nô-ê không nói gì nhiều theo như Kinh Thánh ghi chép.
- Cấm thờ thần tượng.
- Cấm báng bổ Chúa.
- Cấm giết người.
- Cấm ngoại tình và quan hệ loạn luân, tà dâm
- Cấm trộm cắp.
- Cấm ăn thịt từ động vật còn sống
- Thiết lập tòa án công lý.
Trong
khi Nô-ê chỉ nói có một câu: Sáng thế ký 9:24-27 Khi
Nô-ê tỉnh rượu rồi, hay được điều con thứ hai đã làm cho mình, 25 BÈN NÓI RẰNG: Ca-na-an đáng rủa
sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em nó. 26 Người lại nói rằng: Đáng ngợi
khen Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem thay; Ca-na-an phải làm tôi cho họ! 27 Cầu xin Đức Chúa Trời mở rộng đất
cho Gia-phết, cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải làm tôi của họ.
KẾT LUẬN:
CÁCH DẠY VỀ THỨC ĂN QUA 4 THỜI KỲ CỦA MỘT SỐ GIÁO HỘI:
- Thời kỳ Ê-đên chưa phạm tội, chỉ ăn rau cỏ và trái cây (ĂN RAU, TRÁI CÂY)
- Sau lũ thời kỳ Nô-ê thì ăn rau với loài động vật (ĂN ĐỦ THỨ)
- Thời Môi-se đồ ăn được ban theo luật lệ rõ ràng (PHÂN CHIA)
- Thời kỳ ân điển khi Giê-su đến (ĂN ĐỦ THỨ)
- Lặp lại Ê-đên, Chúa Giê-su đến (ĂN RAU, TRÁI CÂY)
HOẶC
LỰA CHỌN DỰA THEO TÍNH HỢP LÝ CỦA KINH THÁNH ĐÃ PHÂN TÍCH TOÀN BỘ BÀI:
- Thời kỳ Ê-đên chưa phạm tội, chỉ ăn rau cỏ và trái cây (ĂN RAU, TRÁI CÂY)
- Sau lũ thời kỳ Nô-ê thì ăn rau với loài động vật (ĂN TINH SẠCH TỪ 7 CẶP, TỐT NHƯ RAU)
- Thời Môi-se đồ ăn được ban theo luật lệ rõ ràng (ĂN TINH SẠCH TỪ NÔ-Ê, QUA CÁC TỔ PHỤ)
- Thời kỳ ân điển khi Giê-su đến (ĂN TINH SẠCH NHƯ CÁC TỔ PHỤ VÀ LUẬT PHÁP)
- Lặp lại Ê-đên, Chúa Giê-su đến (ĂN RAU, TRÁI CÂY)
Vậy
nhìn vào thì chúng ta thấy đâu có tính hợp lý, thống nhất hơn? Tùy mỗi người tự
lựa chọn.